BÀI NÓI CHUYỆN CỦA BÁC TẠI HỘI NGHỊ NGOẠI GIAO CỦA NƯỚC TA NĂM 1966:
- Đoàn Khoa QHQT
- Mar 1, 2022
- 5 min read

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong phòng làm việc của Người ở căn cứ Việt Bắc (Ảnh: Tư liệu)
Nói chuyện tại Hội nghị cán bộ ngoại giao lần thứ năm, ngày 16-3-1966, Người chỉ rõ: “Bây giờ, ngoại giao của ta vừa là một vừa là hai, vừa là hai mà là một. Ta vừa có ngoại giao của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, vừa có ngoại giao của Mặt trận Dân tộc giải phóng. Hai cái vừa là hai mà lại vừa là một, vừa là một mà lại vừa là hai. Hai khối đó phải kết hợp chặt chẽ với nhau”.
Tại cuộc đàm phán Paris, ngoại giao Việt Nam đã thực hiện nghiêm chỉnh và sáng tạo lời dạy đó của Bác Hồ.
Tuy phải chấp nhận Hội nghị bốn bên, đối phương vẫn tìm mọi thủ đoạn để hạ thấp vai trò của Mặt trận và Chính phủ cách mạng lâm thời. Ðoàn Mỹ luôn luôn né tránh việc nói chuyện trực tiếp với Ðoàn Mặt trận và Chính phủ cách mạng lâm thời, đòi tách riêng các vấn đề quân sự với các vấn đề chính trị trong một giải pháp toàn bộ, tức là vừa đòi hai bên cùng rút quân, vừa lẩn tránh vấn đề phải từ bỏ chính quyền Sài Gòn. Chính quyền Sài Gòn thì ngạo mạn tuyên bố chỉ công nhận Mặt trận như "một thực tế chứ không phải một thực thể" (!). Ðáp lại, trong tư thế đại diện chân chính của miền nam chiến đấu, Ðoàn Mặt trận và Chính phủ cách mạng lâm thời đã mạnh mẽ tố cáo và đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân ra khỏi miền nam, xóa bỏ chính quyền Sài Gòn do họ lập ra. Ðoàn Việt Nam Dân chủ cộng hòa, trong cương vị người chủ của nước Việt Nam độc lập, người đang cùng Mặt trận, Chính phủ cách mạng lâm thời và nhân dân cả nước chống xâm lược, vừa đưa ra lập trường riêng của mình, vừa ủng hộ mạnh mẽ lập trường của Mặt trận và Chính phủ cách mạng lâm thời. Trước mắt thế giới, không ai không nhận thấy rằng lập trường và các kiến nghị về giải pháp do hai đoàn miền bắc và miền nam đưa ra tại Hội nghị từ lúc mở đầu đến khi kết thúc đều có chung một tiếng nói. Song cũng không ai không nhận thấy rằng đó là lập trường và kiến nghị về giải pháp của hai đại diện của nhân dân Việt Nam có vị trí khác nhau.
Có thể nói, trong các cuộc họp công khai của Hội nghị, hầu hết các sáng kiến về giải pháp đều do Ðoàn Mặt trận và Chính phủ cách mạng lâm thời đưa ra và được Ðoàn Việt Nam Dân chủ cộng hòa ủng hộ: Giải pháp toàn bộ mười điểm ngày 8-5-1969, Tuyên bố tám điểm nói rõ thêm về giải pháp cho vấn đề Việt Nam ngày 14-9-1970, Tuyên bố bảy điểm ngày 1-7-1971 và tiếp theo là Tuyên bố hai điểm nói rõ thêm tháng 2-1972. Những tuyên bố về giải pháp này đều do Ðoàn Mặt trận và Chính phủ cách mạng lâm thời nêu ra, nhưng được phía Mỹ đặc biệt lưu tâm, bởi họ hiểu phía sau các đề nghị đó là Việt Nam Dân chủ cộng hòa và họ có những phản đề nghị, thí dụ như Kế hoạch tám điểm của Tổng thống Nixon ngày 14-5-1969 hay tuyên bố của ông ta ngày 8-6-1969 về Chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" và việc rút đợt đầu 25 nghìn quân Mỹ. Ðến giai đoạn đàm phán thực chất, trong các cuộc nói chuyện riêng với Mỹ, Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã đưa ra những đề nghị có ý nghĩa then chốt. Như đề nghị chín điểm ngày 26-6-1971, sau đó được Ðoàn Chính phủ cách mạng lâm thời đưa ra công khai tại Hội nghị bốn bên thành Tuyên bố bảy điểm ngày 1-7-1971 về thời hạn rút hết quân Mỹ và thả tù binh, thành lập ở Sài Gòn một chính phủ không có Thiệu để nói chuyện với Chính phủ cách mạng lâm thời. Cũng trong cuộc gặp riêng tại Paris, ngày 8-10-1972, Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã trao cho phía Mỹ dự thảo Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, sau này trở thành Hiệp định chính thức được ký tại Paris ngày 27-1-1973, mặc dù để đi đến việc ký kết đó còn phải trải qua thêm 4 tháng chiến tranh ác liệt và Mỹ bị giáng một đòn chết điếng trong trận "Ðiện Biên Phủ trên không" của ta.
Như vậy, tại cuộc đàm phán Paris, hai đoàn của ta đã thực hiện một cách xuất sắc vai trò và vị trí của mình. Ở đây, đã có sự phân công và phối hợp nhịp nhàng, ăn ý giữa hai đoàn trong toàn bộ quá trình đàm phán, từ việc xác định đấu pháp cho từng thời kỳ, từng phiên họp cho đến việc đưa ra sáng kiến về giải pháp tại diễn đàn công khai hay tại các cuộc gặp riêng; từ các bài phát biểu của các trưởng đoàn ta trong Hội nghị cho đến việc tranh thủ dư luận trong các cuộc họp báo của những người phát ngôn; từ các hoạt động đàm phán của hai đoàn tại Paris cho đến những hoạt động ngoại giao nhà nước và ngoại giao nhân dân trên nhiều địa bàn, nhiều nước và nhiều diễn đàn khác nhau. Ðáng nói nhất là trong hoạt động phong phú của mình, cả hai đoàn đàm phán của ta đều chịu sự lãnh đạo từ một trung tâm - Bộ Chính trị và Ban Bí thư - trực tiếp tại chỗ là các đồng chí Lê Ðức Thọ, Ủy viên Bộ Chính trị và Xuân Thủy, Bí thư Trung ương Ðảng.
Sau Hội nghị Paris về Việt Nam, nhất là sau khi nước nhà thống nhất, có người ví ngoại giao Việt Nam "tuy hai mà một, tuy một mà hai", như một vở diễn hoàn hảo, hoàn hảo đến mức cả thế giới đều không nhận ra là mình đang chứng kiến một vở diễn. Thực ra, câu chuyện có vẻ huyền thoại mà chúng ta nói đây lại là một thực tế lịch sử.
Nguồn: Hội nghị Paris về Việt Nam và sách lược ngoại giao "tuy hai mà một, tuy một mà hai" - Báo Nhân Dân. (2005, April 26). Báo Nhân dân. Retrieved February 21, 2022, from https://nhandan.vn/tin-tuc-su-kien/H%e1%bb%99i-ngh%e1%bb%8b-Paris-v%e1%bb%81-Vi%e1%bb%87t-Nam-v%c3%a0-s%c3%a1ch-l%c6%b0%e1%bb%a3c-ngo%e1%ba%a1i-giao-%22tuy-hai-m%c3%a0-m%e1%bb%99t,-tuy-m%e1%bb%99t-m%c3%a0-hai%22-524751/




Comments